Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020

Nghi Lễ Thống Nhứt


Giới thiệu sách

NGHI LỄ THỐNG NHỨT


Năm 1970, Ban Trị Sự Trung ương thời bấy giờ đã ban hành Thông tư chấn chỉnh và thống nhứt các bài nguyện trong Giáo hội. Quyển Nghi Thức Thống Nhứt khi đó đã được ấn hành trước khi có Thông tư, cho nên người dùng phải tự mình đối chiếu với Thông tư để ứng dụng. Nội dung quyển sách bao gồm các bài nguyện và nghi thức phổ thông, đã một thời đắc dụng.
Với đà phát triển của Giáo hội, kể từ lúc nhận được Quyết định công nhận tổ chức tôn giáo, chúng ta cần có một quyển Nghi Lễ với đầy đủ các Nghi thức ứng dụng.
Năm 2009, Ban Trị Sự Trung ương đã tập hợp lại toàn bộ những nghi thức đã từng sử dụng. Chúng tôi sắp xếp, bổ sung, trong đó có những ý kiến đóng góp của các Tỉnh, Thành hội để hoàn thành quyển Nghi Lễ Thống Nhứt. Đây là thời điểm đánh dấu một bước chuyển mình từ một Hội Phật học, tiến đến vị thế một Giáo hội, đúng với sự công nhận của Nhà nước.
Năm 2014, Giáo hội đã nâng bản Điều lệ và Nội qui lên thành Hiến chương và Nội qui, nhiều nội dung phải có bản qui định riêng để phù hợp với Hiến chương. Do vậy, Ban Trị sự Trung ương và Ban phụ trách Nghi lễ phải thực hiện việc tu chỉnh.
Quyển Nghi Lễ Thống Nhứt gồm có các nội dung sau:
Phần một: Nghi lễ phổ thông, bao gồm các Nghi thức qui y Tam bảo, Bài nguyện nhập môn, Nghi thức qui y vong, Bài nguyện lễ Phật ngày lễ lớn, Bài nguyện công phu tứ thời, Nghi thức trợ niệm, Nghi thức hộ niệm.
Phần hai: Nghi lễ dành cho Y sĩ, Y sinh, bao gồm Bài nguyện học thuốc và các bài nguyện hương.
Phần ba: Nghi lễ thọ phong chức sắc, nêu ra cách thức tiến hành Lễ tấn phong, Bài nguyện thọ phong chức sắc.
Phần bốn: Nghi lễ phủ Đạo kỳ, bao gồm các tiêu chuẩn để ban nghi lễ, qui định thành phần Ban tang lễ, qui định thành phần chủ lễ và bài mẫu điếu tế.
Ngoài ra, có một phụ bản để tuỳ nghi sử dụng nếu có nhu cầu: Văn tế chiến sĩ Sám cầu siêu. Đây là 2 bài của Huấn viên Đạo Đức Như Nhẫn Trương Phong Lưu ở Cà Mau biên soạn từ xưa.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Tổ đình Hưng Minh Tự, ngày 20/12/2014
TM. BAN TRỊ SỰ TW
Chánh Hội trưởng,
NGUYỄN PHƯƠNG HIẾU


Link download sách, có định dạng pdf:

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2020

PM Niệm Phật với DuyThứcHọc


PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
VỚI DUY THỨC HỌC

Trích từ phụ bản bộ sách PHẬT HỌC VẤN ĐÁP
Tác giả: Cư Sĩ Như Pháp


1. Tôi nghe các bậc đàn anh nói rằng: “Pháp môn niệm Phật bao hàm các pháp môn khác như pháp Thiền, pháp Giáo, pháp Luật, pháp Mật, và khoa học Duy Thức. Nói tắt là, bất luận nhà Phật có pháp môn nào cũng được pháp môn niệm Phật thu nhiếp tất cả, bởi sáu chữ Di Đà thu nhiếp tam tàng giáo hải.” Lời của các bậc tiền bối nói như thế, là thật chăng?
Thật hay không là do trình độ nghiên cứu của mỗi người. Ai nghiên cứu sâu rộng thì thật, ai ít nghiên cứu thì còn hoài nghi, ai không nghiên cứu thì không tin gì hết.
Ông nên biết rằng, pháp môn niệm Phật chẳng những bao hàm các pháp môn, mà nó cũng bao hàm ba khoa giáo lý như: Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Ba giáo nầy bao hàm tất cả vô lượng pháp môn của nhà Phật.
2. Xin ông cho biết pháp môn niệm Phật thu nhiếp pháp Thiền bằng cách nào?
Nếu pháp môn niệm Phật không kiêm luôn pháp Thiền, thì làm gì có lời nói tận thuở xưa rằng: “Hữu Thiền hữu Tịnh độ, dụ như đới giác hổ.” Nghĩa là có Thiền có Tịnh độ, chẳng khác nào như cọp mọc sừng. Cọp là thứ dữ, lại thêm có sừng, ý nói dữ càng thêm dữ, hung càng thêm hung, chẳng có loài nào hung dữ bằng, có thể nói là vô địch.
Các vị tiền bối thuở xưa nói câu đó để cho người học Phật hậu lai biết rằng: Ai tu Thiền và Tịnh, thì người ấy là bậc trên hết.
3. Pháp môn niệm Phật nhiếp luôn pháp Giáo là sao?
Giáo là chỉ cho kinh giáo, tức là kinh điển tam tàng giáo hải, là tất cả giáo lý nhà Phật.
Nói rằng pháp môn niệm Phật bao hàm kinh giáo, nó có ý nghĩa là người niệm Phật phải nghiên cứu tu học tất cả tam tàng giáo hải, chớ chẳng phải chỉ có niệm sáu tiếng Di Đà thôi.
4. Thế nào là pháp môn niệm Phật bao hàm cả Luật tông?
Giáo lý nhà Phật gồm Kinh, Luật, Luận. Luật là pháp luật, nó trở thành một tông phái, tông phái nầy lấy sự giữ giới làm gốc trong vấn đề tu hành. Do giữ giới tinh nghiêm mà được thanh tịnh, do thanh tịnh mà chứng đắc giải thoát đường luân hồi sanh tử, Kinh Luận chỉ là thứ yếu. Như thế, chúng ta thấy rằng pháp môn niệm Phật cũng đưa đến sự nhất tâm thanh tịnh,
5. Pháp môn niệm Phật gồm Mật giáo bằng cách nào?
Mật giáo là một tông phái trong Phật giáo. Giáo phái nầy chuyên về trì chú trong sự tu hành. Ở Tây Tạng, Mật tông phát triển rất mạnh.
Mật tông chủ trì tam mật trong sự tu hành giải thoát. Tam mật là thân, khẩu, ý. Trong công phu làm cho tam mật được thanh tịnh nhờ tay bắt ấn, miệng niệm chú. Tâm an thì thân cũng an, tam nghiệp tịnh là Phật xuất thế.
6. Pháp môn niệm Phật gồm luôn Duy Thức Học bằng cách nào?
Vấn đề nầy tôi xin phép lược giải, không thể nói nhiều được. Vì nói nhiều, nó thành một quyển Duy Thức Học chớ chẳng phải Phật Học Vấn Đáp.
Duy Thức Học cho chúng ta biết rằng: “Hành động tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý về sự việc gì, cả thảy đều có gieo hột giống vào đệ bát A-lại-da thức. A-lại-da thức ví như một cái kho, cái kho nầy dành để tàng trữ các hạt giống (chủng tử) do ba nghiệp hành động tạo tác. Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) hành động tạo tác cái chi đều có lưu lại hạt giống. Các hạt giống đó được thức thứ bảy là Mạt na thức truyền vào kho A-lại-da thức tồn trữ không cho hư mất. Lý do đó mà trong tâm A-lại-da chứa vựa không biết bao nhiêu hạt giống: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, thiện, bất thiện, tình ái, tình dục, thương, ghét, đạo đức, tu hành, v.v...
Các hạt giống trên đây loại nào tập trung theo loại ấy. Loại nào nhiều, nó có sức mạnh hiện hành, chẳng cần có các duyên ngoại tại đồng tánh chất lôi cuốn, kích thích, làm cho hạt giống phát sanh hiện hành (hiện ra hành vi cử chỉ, ngôn ngữ và ý nghĩ suy tư gồm trong ba nghiệp). Trái lại, hạt giống nào ít oi, chẳng đủ sức mạnh tự mình hiện hành, nó phải chờ các duyên bên ngoài kích thích nó mới hiện hành được.
Đến đây chúng ta thấy rằng: “Tất cả hành động của ba nghiệp thân, khẩu, ý đều do chủng tử hiện hành. Ví dụ như một người phóng tâm tham lam trộm cắp, người nầy trước sau gì cũng thành một người tham lam trộm cắp. Thế thì biết rằng, tư tưởng của con người làm sao, hình thành con người như thế ấy không hề sai. Lý do đó mà nhà Phật bắt buộc người tu hành phải giữ giới để cho thân tâm đạt thanh tịnh, không sái quấy, không bất nhơn thất đức, trái lại, phải tư duy đạo đức, hành động đạo đức, phải tu tập nhứt thiết thiện pháp. Kinh Kim Cang nói: “Tu cả thảy pháp lành tức đặng đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.”
Sức mạnh của chủng tử là tâm xui giục kích thích con người, làm cho con người xuôi dạ, yếu ớt, không thể cưỡng lại được. Ai chứa vựa chủng tử xấu nhiều, người đó càng ngày càng xấu xa hèn mạt, không ai chịu nổi. Ai chứa chủng tử chơn, mỹ, thiện nhiều, người đó càng ngày càng thánh hóa, rốt ráo được thành Phật.
Hiểu thế lực và sự hiện hành của chủng tử rồi, chừng đó mới có thể tin mình tu hành cũng sẽ thành tựu công đức mà mình có công gieo trồng.
Theo Duy Thức Luận, con người thường hành động, lời nói và ý nghĩ cái chi, con người sẽ trở thành cái đó. Đây là lời nói thông thường theo khoa học. Còn lời nói của môn học nầy thì, tư tưởng và hành động của con người thuộc tâm lý học, mà khoa tâm lý học thế gian cũng chưa khám phá được. Môn học Duy Thức cho chúng ta biết rằng: “Mỗi thức trong bát thức đều có kiến phần và tướng phần. Kiến phần tức là phần tri kiến, Duy Thức Học nói nó là tâm sở của tâm vương. Tâm vương điều khiển tâm sở hành động theo ý thích của nó, chẳng khác nào vua có quyền lực sai khiến các bề tôi phải thi hành theo lệnh của mình ban ra. Kiến phần của thức vương chuyên về việc duyên qua tướng phần (phần sự tướng). Tướng phần nầy chẳng phải bỗng dưng mà có, nó do kiến phần biến hóa ra rồi lấy đó làm đối tượng sở duyên. Nghĩa là kiến phần biến hóa ra sự tướng để duyên, chớ kiến phần không thể trực tiếp duyên vào các pháp được. Thế thì biết rằng các tướng sở duyên nó không thật có.
Ví dụ khi ta tưởng tượng đến chiếc xe gắn máy Dream II, thì tâm của thức là kiến phần, nó xuất hiện và biến ra chiếc xe rồi nối duyên vào đó. Thế là tâm ta hiện nguyên hình chiếc xe gắn máy. Ví dụ nầy nói lên vấn đề khi ta thường xuyên tư tưởng về cái gì thì ta sẽ thành cái đó.
Tác dụng của kiến phần linh động như vậy, nên Hòa thượng Nhất Hạnh nói: “Ta nhìn vật gì, ta là cái đó.” Chỉ nhìn suông một vật mà còn như thế, nếu ta thường niệm tưởng vào sự vật gì, thì ta sẽ trở thành sự vật đó. Ví dụ trên đây cho ta biết rằng: “Ta thường phóng tư tưởng niệm Phật, thì tâm ta đang là tâm chúng sanh sẽ trở thành tâm Phật. Khi ta tỏ ngộ tâm nầy, Thiền tông gọi là minh tâm kiến tánh thành Phật. Vả chăng tâm nầy là tâm vọng, mà cũng là tâm chơn (tức Phật tánh). Bởi vì, vọng tâm với chơn tâm, chẳng khác nào như sóng với nước. Nếu sóng tức là nước, thì vọng tâm tức chơn tâm, bản thể tức hiện tượng, pháp tướng tức pháp tánh, chúng sanh tức Phật, phiền não tức bồ đề.
Vì tùy duyên, nên chơn tâm trở thành vọng tâm (chơn như trở thành vọng tưởng), khác nào nước trở thành sóng nhưng không mất chất nước, cho đến trở thành băng giá cũng không mất bản chất. Cũng như thế, chơn như trở thành vọng tưởng, nó đâu có biến mất bản chất thanh tịnh tịch diệt.
Cái lắc léo nầy, phàm phu và nhị thừa làm sao tỏ ngộ? Vì không tỏ ngộ vọng tưởng tức chơn như, lý do đó, trong sự tu hành cứ cong xương sống mà diệt trừ vọng tưởng, thì có khác nào diệt trừ phiền não. Phiền não mà bị tiêu diệt rồi, làm sao chứng được tâm bồ đề. Chẳng khác nào sóng mà bị hủy diệt rồi nước làm sao còn.
Bao nhiêu lý luận và ví dụ trên đây, cho ta biết chắc chắn rằng ta niệm Phật một giây, sẽ thành Phật một giây, niệm Phật một phút thì thành Phật một phút, niệm một giờ thành Phật một giờ, niệm một ngày thành Phật một ngày, niệm một tháng, một năm, v.v...
Chỉ bàn sơ về niệm Phật chớ chưa đi sâu vào chủng tử A Di Đà Phật tích trữ vô lượng vô biên trong tàng thức. Những chủng tử nầy thuộc chơn mỹ thiện thanh tịnh tịch diệt, nó đồng hóa các chủng tử không chơn mỹ thiện. Ban sơ chủng tử chơn mỹ thiện lấn áp chủng tử không chơn mỹ thiện, lần lần chủng tử không chơn mỹ thiện bị đồng hóa, hoặc bị loại trừ, khiến cho tâm của hành giả trở thành thanh tịnh vắng lặng. Bản chất thanh tịnh vắng lặng càng ngày càng lớn mạnh, ngoại duyên trần cảnh dù có hấp dẫn kích thích cách mấy cũng không thể nào làm hành giả ô nhiễm được.
Nên biết rằng, bản chất của chơn tâm Phật tánh là thanh tịnh tịch diệt, niệm Phật đến chỗ thanh tịnh tịch diệt, thanh tịnh là bản chất của bồ đề, tịch diệt là bản chất của niết bàn. Niệm Phật đến chỗ thanh tịnh tịch diệt thì gặt hái được hai quả chuyển y bồ đề niết bàn.
Có một vị Thiền sư Đông độ nói rằng: “Niệm Phật là lấy máu rửa máu.” Từ cổ chí kim, ai cũng cho rằng Thiền với Tịnh tu chung chẳng khác nào như cọp mọc sừng. Thế mà vị Thiền sư nầy làm cái việc “hàng thịt nguýt hàng cá,” thật là khi kinh ngạo Phật. Chính đức Từ phụ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni giới thiệu pháp môn niệm Phật, thế mà Thiền sư dám cao ngạo xem Phật tổ không có ký lô nào hết. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng: “Tri kiến không dính mắc vào năng sở (kiến tướng phần) thì nhập vào tri kiến Như Lai.” Ngài Tâm Minh nói: “Nếu không cố chấp một chút gì là thật có, dù là chơn hay phi chơn thì liền được nhập vào pháp tánh (chơn như) và thành bậc chánh giác.”
Niệm Phật đến chỗ thanh tịnh tịch diệt thì cái tâm vọng đâu còn, nó đã hoàn nguyên lại bản thể. Cái tâm vọng mà hết vọng, thì đó là Bồ đề diệu minh chơn tâm. Toàn thể vọng niệm tạp tưởng đều do chấp ngã, chấp pháp sanh ra. Nêu nhị chấp đó không còn, người tu hành toàn đạt vô lậu thanh tịnh. Ngã pháp, đồng nghĩa với năng sở, cũng đồng nghĩa với kiến, tướng phần. Nếu niệm Phật mà không chấp có ta niệm, không chấp có ông Phật sở niệm, đó là niệm Phật đạt cảnh giới vô năng vô sở đối đãi, đạt cảnh giới nhị vô ngã. Nhị vô ngã không còn thì làm gì có nhị chướng (phiền não chướng và sở tri chướng). Nhị chướng không có thì chứng được nhị chơn như (sanh không chơn như và pháp không chơn như), chứng được nhị chơn như thì bỏ được nhị sanh tử (sanh tử phần đoạn và sanh tử biến dịch). Thoát ly được nhị sanh tử thì chứng được hai quả chuyển y Bồ đề niết bàn (tạm nói chứng). Đó, niệm Phật mà được như vậy đó, nó hơn vị Thiền sư nói rằng “Niệm Phật như lấy máu rửa máu.”
Niệm Phật như vậy, nó đâu có kém hơn pháp thiền mà Thiền sư đang tu. Bằng cớ là, nếu Thiền sư kiến tánh thì đâu có nói câu “hàng thịt nguýt hàng cá.”
Nói rằng niệm Phật như lấy máu rửa máu, nghĩa là không bao giờ trong sạch được. Nói như thế thì dốt quá, tức không hiểu nghĩa lấy vọng trừ vọng (dĩ vọng trừ vọng). Nếu lấy vọng trừ vọng là bất tịnh, thử nghiên cứu câu “lấy huyễn trừ huyễn” trong kinhViên Giác coi có được hoàn toàn thanh tịnh hay không? Nếu lấy huyễn trừ huyễn mà đặng thành bậc vô thượng Bồ đề, thì lấy vọng trừ vọng của pháp môn niệm Phật cũng đạt đạo vô thượng Bồ đề vậy. Thanh tịnh cho đến không chấp có thanh tịnh, thử hỏi còn cái gì ở nội tâm mà nói rằng “lấy máu rửa máu thì không bao giờ thanh tịnh tịch diệt.” Thanh tịnh tịch diệt là bản chất của Bồ đề niết bàn, mà hành giả đã thanh tịnh tịch diệt, thử hỏi nơi tâm địa còn cái gì, há chẳng phải là cái không (chơn không) ư? Cái không nầy nó thuộc về tuyệt đối, chẳng phải đối với cái có, thì làm sao gọi là lấy máu rửa máu.
Thanh tịnh cho đến không còn kẹt vào lời nói của kinh Lăng Nghiêm: “Dù cho diệt hết kiến, văn, giác, tri mà bên trong còn chấp giữ cái pháp trần do thức tâm phân biệt phát sanh.” Không dụng công tu hành là bậc tu vô vi (không hành vi động tác) là bậc vô công dụng đạo (không dụng công tu hành), đó là huệ giác Bát nhã ba la mật, tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi, bậc nầy có phải là Viên Giác chăng?
Niệm Phật như vậy thua Thiền tông chăng? Pháp Thiền được vậy chăng?

CHỦNG TỬ SANH HIỆN HÀNH,
HIỆN HÀNH SANH CHỦNG TỬ

Đến đây chúng ta thấy rằng niệm Phật là gieo chủng tử vô lậu thanh tịnh. A Di Đà dịch là Vô lượng quang, Vô lượng thọ, niệm A Di Đà là gieo chủng tử Vô lượng quang minh, Vô lượng thọ mạng. Quang minh là gì? Là Huệ giác bát nhã ba la mật, tức là trí huệ đáo bỉ ngạn, trí nầy là độ thứ sáu trong sáu độ ba la mật.
Khi niệm Phật, đó là hiện hành trì niệm A Di Đà, nếu hiện hành thì có gieo là lẽ đương nhiên, Duy Thức Học gọi là “Chủng tử sanh hiện hành, hiện hành sanh chủng tử.” Mỗi lần hành động cái chi của ba nghiệp thân, khẩu, ý, đều có gieo chủng tử. Như thế chủng tử được gieo như vậy từ năm nầy qua năm kia, đến suốt đời, tức suốt đời tích lũy chủng tử A Di Đà đến vô lượng vô biên không thể đếm tính được là bao nhiêu chủng tử A Di Đà.
Thiền sư mà còn chấp ngã chấp pháp là một việc ít có. Máu để rửa là năng tu, máu bị rửa là pháp tu. Năng sở, ngã pháp còn là công phu của phàm tiểu, nó thuộc về tương đối. Tương đối là pháp có hai, chẳng phải bất nhị pháp môn, nó thuộc hữu vi công phu. Trình độ như thế mà dám đại ngôn phê bình pháp môn niệm Phật bao hàm cả Tiệm giáo, Đốn giáo và Viên giáo.
“Lìa chấp ngã chấp pháp mà công phu tu hành, liền nhập vào Vô thượng chánh đẳng chánh giác.” Đó, câu nói đó của kinh Lăng Nghiêm nay ứng dụng trong pháp môn niệm Phật. Ai có pháp môn nào tài giỏi, hãy chống đỡ và bác khước câu nói đó xem?
Cư sĩ NHƯ PHÁP

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

DẪN VÀO DUY THỨC HỌC


TÓM LƯỢC BÁCH PHÁP,
DẪN VÀO DUY THỨC HỌC

Duy Thức Học là môn tâm lý học nhà Phật, giải thích sâu và rộng các hiện tượng về Tâm, Ý, Thức, làm nền tảng vững chắc cho nhân sinh quan và vũ trụ quan. Hiểu được sự vận hành của Bát thức Tâm vương, sẽ biết được vì sao hành nghiệp của từng cá nhân không bị lẫn lộn, đồng thời rõ được chỗ chứa của nghiệp thức thiện hay ác của cá nhân qua vô số kiếp. Mặc dù vậy, môn học này được ví như một cái rừng rậm, quanh co rối rắm. Người xưa đã từng có câu nói: “Học Duy Thức như muỗi cắn đá.” Hầu hết đều bỏ cuộc khi đi sâu vào môn này.

Tinh hoa của Duy Thức Học nằm ở quyển (1) Du Già Sư Địa Luận, tương truyền rằng ngài Vô Trước được Đức Di Lặc truyền lại khi ngài lên cung Đâu Suất. Nội dung quá sâu, quá rộng, bao gồm 600 pháp. Ngài Thiên Thân lược lại còn 100 pháp, tóm lược trong một quyển luận ngắn (2) Đại thừa Bách Pháp Minh Môn Luận, đồng thời, ngài viết thêm bản luận (3) Duy Thức Tam Thập Tụng nhưng chưa kịp giảng giải. Về sau, có ngài Huyền Trang là người thông suốt môn Duy Thức Học, đã viết nên bộ luận (4) Thành Duy Thức để diễn giải môn Duy Thức, và bản tóm lược (5) Bát Thức Qui Củ Tụng.

Năm văn bản trên đây có thể đã nói ra toàn bộ lý nghĩa Duy Thức Học, nhưng không vì thế mà nó dễ học hiểu đối với người đời sau. Hiện tại, cũng đã có nhiều quyển sách giảng giải Duy Thức Học, nhưng rất khó tìm được đầu mối để thâm nhập lý nghĩa Duy Thức. Hiện giờ lại thêm một rào cản đối với người Việt Nam, là sách vở Duy Thức Học sử dụng rất nhiều từ ngữ Hán-Việt xưa!

Theo chúng tôi, muốn học Duy Thức, cần phải thông suốt nội dung quyển Đại thừa Bách Pháp Minh Môn Luận, lấy đây làm căn bản để vào nhà Duy Thức. Với các pháp hữu vi thuộc nhóm 4, chỉ cần hiểu danh từ là đủ. Sau đó sẽ nghiên cứu, học tập lần lượt Bát Thức Qui Củ Tụng, rồi tới Duy Thức Tam Thập Tụng. Hỗ trợ cho việc học cần phải có thêm bộ Từ điển Phật học (Nếu có bộ Phật Quang Đại Từ Điển là tốt nhất).

Để trợ lực cho việc học Bách Pháp, chúng tôi thực hiện các bản tóm tắt và các lược đồ sau đây. Về tài liệu giảng luận, giáo hội TĐCSPHVN có bộ tài liệu của Đức Huấn sư Như Pháp (hiện đã hoàn thành 5 tập), được upload lên internet, dạng file pdf hiện đang rất thông dụng cho mọi thiết bị.

Người xưa học được thành công, là do chuyên nhất, không cùng một lúc nghiên cứu học tập nhiều môn. Thân chúc quí đạo hữu có sự ưa thích để thành tựu môn này. 

Trân trọng. 

Nam Mô A Di Đà Phật.

THIỆN TỊNH

__________________________

GHI CHÚ: 

Phía dưới bài tóm lược này là link download 5 tập DUY THỨC HỌC GIẢNG LUẬN (file pdf) của Đức Huấn sư Như Pháp. Chư quí vị tải về máy để đọc.

__________________________ 


* * * * * *

Như lời Phật dạy: "Tất cả pháp đều vô ngã." Tất cả pháp ước lược gồm 100 pháp, được phân thành năm nhóm bên dưới đây. Chúng được phân theo thứ tự như vậy, bởi nhóm (1) là tối thắng, nghĩa là vạn pháp đều nhờ có 8 tâm vương mà phát hiện ra; nhóm (2) giao tiếp với nhóm (1) tạo thành nhóm (3) là bóng hiện của hai nhóm trước; nhóm (4) do phần vị sai khác của ba nhóm kia (1) (2) (3) mà sanh ra tri giác sai biệt; và nhóm (5) được hiển thị bởi bốn nhóm đầu.

94 PHÁP HỮU VI

6 PHÁP VÔ VI
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
TÂM VƯƠNG
(8 PHÁP)
TÂM SỞ HỮU PHÁP
(51 PHÁP)
SẮC PHÁP
(11 PHÁP)
TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH (24 PHÁP)
VÔ VI PHÁP
1. Nhãn thức
2. Nhĩ thức
3. Tỷ thức
4. Thiệt thức
5. Thân thức
6. Ý thức
7. Mạt-na thức
8. A-lại-da thức
5 Tâm sở biến hành: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư.
Năm căn:
Nhãn căn,
Nhĩ căn,
Tỷ căn,
Thiệt căn,
Thân căn.

Sáu trần:
Sắc trần,
Thinh trần, Hương trần,
Vị trần,
Xúc trần,
Pháp trần.
1) Đắc
2) Mạng căn
3) Chúng đồng phận (đồng loại)
4) Dị sanh tánh (phàm phu)
5) Vô tưởng định
6) Diệt tận định
7) Vô tưởng báo
8) Danh thân
9) Cú thân
10) Văn thân (chữ)
11) Sanh
12) Trụ
13) Lão
14) Vô thường (chết)
15) Lưu chuyển
16) Định vị
17) Tương ưng
18) Thế tốc
19) Thứ đệ
20) Thời gian
21) Không gian.
22) Số
23) Hòa hợp tánh
24) Bất hòa hợp tánh.
1) Hư không vô vi,
2) Trạch diệt vô vi,
3) Phi trạch diệt vô vi,
4) Bất động diệt vô vi,
5) Thụ tưởng diệt vô vi,
6) Chơn như vô vi.
5 Tâm sở biệt cảnh: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
11 Tâm sở thiện: Tín, Tinh tấn, Tàm, Quí, Vô tham, Vô sân, Vô si, Khinh an, Bất phóng dật,  Hành xả, Bất hại.
6 Tâm sở Căn bản phiền não: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến (Ác kiến có 5 món gồm thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ).
20 Tâm sở Tùy phiền não: Gồm 10 Tiểu tùy: Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siểm, Hại, Kiêu. 2 Trung tùy: Vô tàm, Vô quí. 8 Đại tùy: Trạo cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn, Bất chánh tri.
4 Tâm sở bất định: Hối, Miên, Tầm, Tứ.
Bốn nhóm đầu thuộc về sự tướng, nhóm 5 thuộc về lý tánh. Gọi chung là 5 pháp sự lý.
Tâm vương hơn tất cả
Tâm sở tương ưng với tâm vương
Hai thứ hòa hiệp ảnh tượng sanh
Ba phần giả lập bất tương ưng
Do hữu vi, hiển thị vô vi
Thứ lớp bách pháp là như vậy.


LƯỢC GIẢI 51 TÂM SỞ HỮU PHÁP

5 món Biến hành Tâm sở: Chúng đi khắp bốn chỗ: 1/ Đi khắp thời gian; 2/ Đi khắp không gian (ba cõi, chín địa); 3/ Đi khắp Bát thức; 4/ Đi khắp ba tánh lành, dữ, không lành không dữ.

Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Xúc (tiếp xúc)
Làm cho TV và TS tiếp xúc cảnh sở duyên.
Chỗ nương cho TS Thụ, Tưởng, Tư phát sanh.
Tác ý (thức tâm)
Đánh thức chủng tử TV, TS hiện hành sanh khởi.
Dẫn dắt TV và TS hiện ra để cùng duyên với cảnh của mình.
Thụ (thụ lãnh)
Lãnh thọ mọi cảnh vui, buồn, không vui không buồn.

Tưởng (tưởng tượng)
Tưởng tượng hình tướng của sự vật đang hiện diện hay vắng mặt.
Đặt tên bày hiệu về danh từ cũng như về ngôn ngữ cho sự vật để kêu gọi.
(suy tính)
Suy tư, lo nghĩ, sáng tạo.
Khiến TV TS hành động theo chỗ lo nghĩ.


5 món Biệt cảnh Tâm sở: Biệt cảnh nghĩa là cảnh riêng biệt của mỗi tâm, có cảnh sở duyên riêng biệt.

Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Dục (mong muốn, hy vọng)
Mong mỏi thích duyên những cảnh vui sướng.
Phát khởi sự siêng năng sốt sắng, hăng say, theo đuổi những cảnh vừa ý.
Thắng giải (hiểu đúng)
Hiểu biết đành rành, đích xác, không mơ hồ, không nghi ngờ.
Không thay lòng đổi ý khi đã hiểu biết rõ ràng.
Niệm (nhớ nghĩ)
Ghi nhớ rõ ràng; thường tâm tâm niệm niệm những gì theo đuổi.
Làm chỗ nương cho tâm chuyên chú tùy theo cảnh duyên thiện hay ác.
Định (sự chú tâm)
Không tán loạn, một tâm, một cảnh.
Làm trí sáng suốt phát hiện.
Huệ (sự thông sáng)
Sự sáng suốt để lựa chọn cái hay, cái tốt, cái lành.
Dứt sự nghi ngờ.


11 món Thiện Tâm sở: Thiện nghĩa là lành. Tác dụng của các tâm sở nầy hay hành thiện, chúng có khả năng đưa đẩy, dẫn dắt con người đến chỗ giác ngộ.

Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Tín (sự tin tưởng)
Tin chịu điều chơn thật, có thể làm cho con người tiến bộ về chơn, mỹ, thiện.
Đối trị lòng không tin tưởng.
Tinh tấn (tinh cần tấn tới)
Siêng năng dứt ác, làm các điều thiện.
Đối trị lười biếng giãi đãi.
Tàm (tự hổ)
Xấu hổ khi làm quấy dù chưa ai biết.
Đối trị lòng không biết xấu hổ.
Quí (thẹn với người)
Tự thẹn khi làm những điều chẳng phải.
Đối trị lòng không biết thẹn.
Vô tham (không tham)
Không ham muốn trái lẽ.
Đối trị lòng tham.
Vô sân (không sân hận)
Không sân hận khi gặp nghịch cảnh.
Thích làm điều lành để đối trị sân hận.
Vô si (không si mê)
Không si mê, khờ dại, lầm lạc.
Chỉ thích làm điều lành để đối trị si mê.
Khinh an (nhẹ nhàng thơ thới)
Nhẹ nhàng thơ thới, khoan khoái khi làm điều lành.
Chỉ thích hành thiện, đối trị bệnh hôn trầm, trì trệ.
Bất phóng dật (kg buông lung)
Không buông thả phóng túng, nhờ vậy ngăn ngừa được những điều xấu.
Ngăn ngừa sự buông lung, dẫn dắt con người đến sự giác ngộ.
Hành xả (làm rồi không chấp)
Làm thiện mà lòng không chấp trước.
Đối trị bệnh chấp trước việc hành thiện.
Bất hại (không làm tổn hại)
Không làm tổn hại cái gì, lớn hay nhỏ.
Đối trị tổn hại và có lòng từ bi.


6 món Căn bản phiền não Tâm sở: Căn bản phiền não nghĩa là phiền não cội gốc.

Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Tham
Ham muốn những điều ưa thích.
Chướng ngại lòng không tham.
Sân
Giận ghét những cảnh nghịch ý.
Làm cho thân tâm không an ổn.
Si
Mê muội bất thông chơn lý.
Chướng ngại tánh sáng suốt.
Mạn
Khinh mạn, rẻ rúng kẻ khác.
Tự tôn, tự cao tự đại.
Nghi
Ngờ vực, do dự không quyết đoán.
Chướng ngại điều lành, điều phải.
Ác kiến
Sự thấy biết thuộc về tội ác, ô nhiễm.
tạo nghiệp khổ, chướng ngại chánh kiến.
Ác kiến Tâm sở lại có 5 món khác nhau: (a) Thân kiến: chấp thân nầy là ta. (b) Biên kiến: chấp một bên, chấp thường, chấp đoạn. (c) Tà kiến: kiến chấp tà vạy, cũng gọi là mê tín. (d) Kiến thủ: chấp chặt chỗ hiểu biết của mình là đúng. (e) Giới cấm thủ: chấp chặt giới cấm không chánh đáng, hoặc chấp tục lệ không hợp chơn lý.


20 món Tùy phiền não Tâm sở: Nhóm nầy tùy thuộc vào Căn bản Phiền não, do phiền não cội gốc sanh ra.

* 10 món Tiểu tùy phiền não:
Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Phẫn (giận dỗi, nóng giận)
Gặp nghịch cảnh hay sanh nóng giận.
Làm tổn hại người hay vật.
Hận (thù oán)
Hận thù mang giữ trong lòng.
Nóng nảy, ôm ấp buồn phiền, tức tối.
Phú (che giấu)
Che giấu tội lỗi, che giấu nghề nghiệp.
Lo lắng, sợ sệt sẽ bị mất mát.
Não (buồn bã)
Buồn bã sau khi phẫn hận.
Ngăn lấp sự thanh tịnh an nhiên tự tại.
Tật (tật đố, ganh ghét)
Ganh ghét, đố kỵ, kỳ thị.
Lo sợ, chặn chẹt hiền tài, làm cho lụn bại.
Xan (bỏn xẻn)
Rít rắm, bỏn xẻn, tham lam.
Làm chướng ngại đức tánh từ bi.
Cuống (dối trá, giả dối)
Giả dối với mọi người vì hám danh lợi.
Giả trá lớp sơn bề ngoài.
Siểm (nịnh hót, bợ đỡ)
Ton hót nịnh bợ để mê hoặc người.
Làm những bộ dạng bên ngoài đều giả dối.
Hại (tổn hại)
Làm tổn hại loài hữu tình và vô tình.
Tổn hại, phá hoại mọi việc.
Kiêu (kiêu căng)
Kiêu ngạo khi đắc thời, thế, tài lộc.
Xem rẻ kẻ khác, hay hành động nhiễm ô.

* 2 món Trung tùy phiền não:
Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Vô tàm (không biết tự hổ)
Không biết tự hổ khi mình làm quấy.
Tăng trưởng tâm bất chánh, bất thiện.
Vô quí (không biết tự thẹn)
Không biết thẹn khi làm quấy.
Đưa đẩy con người vào vòng tội lỗi.

* 8 món Đại tùy phiền não: Chúng biến hiện khắp các tâm sở bất thiện, nên gọi là đại.
Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Trạo cử (Lao chao)
Thân tâm lao chao không nghiêm chỉnh, cử chỉ chao động, lời nói lố lăng.
Làm chướng ngại cho sự trang nghiêm thanh tịnh, ngăn lấp pháp định tâm.
Hôn trầm (Chìm sâu trong mờ tối)
Mờ mịt tối tăm, mê man trong cơn thiền quán hay công phu niệm Phật.
Làm chướng ngại cho sự sáng suốt và khinh an, ngăn trở công phu tu hành.
Bất tín (Không tin)
Không tin các pháp lành, không nhìn nhận nhân quả, luân hồi, báo ứng.
Làm chướng ngại cho sự học đạo, nghe pháp.
Giải đãi (lười biếng, trễ nãi)
Nhác lười, hay bỏ dở nửa chừng, lui sụt vô cớ.
Làm chướng ngại lòng tinh tấn, các pháp ô nhiễm ngày càng phủ vây.
Phóng dật (buông thả luông tuồng)
Buông thả luông tuồng, phóng túng, ăn chơi, chạy theo tài sắc, bất kể phải quấy.
Làm chướng ngại đạo tâm, ngăn đường đoạn trừ mê hoặc của hành giả.
Thất niệm (mất chánh niệm)
Hay quên, việc làm hay thời công phu bị ngưng trệ, lạc hướng.
Làm chướng ngại cho chánh niệm, chánh quán.
Tán loạn (rối loạn đầu óc)
Tư tưởng tạp nhạp cứ chen vào làm đứt đoạn trong sự niệm tưởng.
Làm chướng ngại cho hành giả muốn tiến đến Định Huệ.
Bất chánh tri (sự hiểu biết không chơn chánh)
Phần nhiều có sự nhận định sai lầm, tà kiến điên đảo, không rõ thiện ác, tà chánh.
Làm chướng ngại cho hành giả nào muốn tiến đến đức tánh hiểu biết chơn chánh.


4 món Bất định Tâm sở: Là các tâm sở chưa nhứt định là thiện hay ác, tà hay chánh.

Hành tướng
Cá tánh
Nghiệp dụng
Hối (ăn năn)
Hối có một cái tên khác là ố tác, là ghét việc làm đã qua và ăn năn việc làm ấy.
Ăn năn những điều phạm lỗi là thiện, ăn năn vì bỏ lỡ cơ hội đánh cắp là ác.
Miên (ngủ)
Nếu ngủ nhiều ngủ say trễ mất thì giờ là ác. Ngủ có giờ có giấc để lấy lại sức khỏe là thiện.
Ngủ với tiêu chuẩn thiện làm cho thân tâm được khỏe khoắn và sáng suốt. Ngủ với tiêu chuẩn ác làm chướng ngại cuộc sống.
Tầm (tầm cầu)
Tầm cầu chơn lý là thiện, với người tu hành mà tầm cầu danh lợi là ác. Vì tầm cầu chơn lý nên tâm được mở tỏ. Tầm mưu kế để làm việc bất chánh là ác.
Làm cho đầu óc bận rộn, thân tâm ít được nhẹ nhàng thơ thới, lòng dạ chẳng yên.
Tứ (xét nét)
Suy nghĩ xét đoán. Theo lẽ phải là thiện, trái lại là ác.
Tăng trưởng ánh sáng trong tư duy, hoặc chánh, hoặc tà.




ĐỒ HÌNH DIỄN TẢ BÁT THỨC TÂM VƯƠNG 
HOẠT ĐỘNG NƠI CON NGƯỜI

(Hình vẽ cơ thể người mượn trên internet)

– THỨC là gì?
– Là một dòng Tâm sở liên tục hiện hành. Thức là tác dụng của các Tâm sở, tác dụng đó làm Tâm sở trở thành Tâm vương. Nói cách khác, Tâm trở thành Thức. (Đức Huấn sư Như Pháp)

GIẢI THÍCH VỀ PHÁP TRẦN

Con người có sáu cái gương soi (sáu căn), mỗi cái gương soi đều có sự thâu thập ảnh tượng cho riêng mình và xông ướp vào kho tàng dưới hình thức chủng tử. Mỗi gương soi đều có sự thâu thập ảnh tượng cho riêng mình, nghĩa  là ảnh tượng của mỗi thức nào, thức đó tự duyên lấy, không lộn xộn được. Tỷ dụ: ảnh tượng của sắc trần thì nhãn thức tự duyên lấy, nhĩ thức, tỷ thức không thể duyên được.
Có sáu thứ ảnh tượng: Ảnh tượng sắc trần, Ảnh tượng thinh trần, Ảnh tượng hương trần, Ảnh tượng vị trần, Ảnh tượng xúc trần, Ảnh tượng pháp trần. Bóng ảnh của 5 trần gọi là pháp trần. Có 4 cách hiện ra như sau:
1) Ảnh tượng có mặt năm trần: Khi sáu thức trước chung khởi (ngũ câu ý thức) để duyên trần cảnh, thức nào cũng rước ảnh tượng của riêng mình vào tâm trong lúc con người đứng trước cảnh vật. Cảnh vật hiện tiền phản chiếu hình ảnh của chúng vào Tâm vương, Tâm sở. Không bao giờ con người nhìn thấy được tự thân của thực tại, nghĩa là ta chỉ thấy cái bóng ảnh của muôn vật mà thôi. Thêm nữa, gương soi không có lưu bóng ảnh. Trái lại, đối với các thức thì không phải như vậy nữa. Một khi cảnh vật đã đi qua rồi, thì bóng ảnh của chúng huân vào kho chứa bằng hình thức chủng tử.
2) Ảnh tượng vắng mặt năm trần: Những hình ảnh của sự vật đã lưu trữ vào Tàng thức như trên, tuy chúng là chủng tử, nhưng nếu Ý thức ngẫm nghĩ, hồi tưởng cảnh đã qua, thì chủng tử ảnh tượng nầy tái hiện, gọi là tướng phần ảnh tượng bị duyên. Nghĩa là chúng hiện trở lại y hệt như lúc ta đang đứng trước cảnh vật vậy.
3) Ảnh tượng ảo tưởng: Là ảnh tượng không có thực thể, do Ý thức giàu tưởng tượng những việc hoang đường thần thoại rồi hình ảnh giả tưởng ấy hiện ra trong tâm thức.
4) Ảnh tượng chiêm bao: Là cảnh trong mộng của Ý thức. Cảnh nầy là giả cảnh, chỉ có trong giấc mơ.


NĂM MÓN PHÁP TRẦN

1) Cực lược sắc: Sắc chất rất nhỏ như bụi trần.
2) Cực hánh sắc (cực huýnh sắc): Sắc rất xa, chỉ thấy tăm tăm mù mù. (Hai món này mắt thịt thấy được).
3) Định quả sắc: Định quả sắc là thứ sắc chất do kết quả của Thiền định hiện ra.
4) Vô biểu sắc: Là sắc chất không thể phô bày ra ngoài được, bởi nó rất vi tế. Vô biểu sắc là ảnh tượng lưu chiếu từ những hành động của ba nghiệp thân, khẩu, ý, cho đến màu sắc hay tiếng nói,… Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động, ba việc đó đều có hình ảnh lưu chiếu vào Tàng thức, gọi là chủng tử. Những việc làm, những tư tưởng thầm kín, không giấu đặng các nhân vật trong thế giới vô hình.
5) Biến kế sở chấp sắc: Sắc do vọng tưởng so đo tính toán của Ý thức hiện ra. Đây là ảnh tượng của tư tưởng, cũng tương tợ như vô biểu sắc, song vô biểu sắc không đầy vọng tưởng như biến kế sở chấp sắc.
Nói tóm lại, Pháp trần có năm loại, hai loại đầu chưa phải là vật vô hình, vì còn thấy được mặc dù không rõ ràng. Ba loại sau, mắt phàm thấy không được, đó mới là bóng ảnh của năm trần./-


__________________________________


Link tải về các quyển Duy Thức Học giảng luận của Đức Huấn sư Như Pháp:

Duy Thức Học giảng luận – tập 1:

Duy Thức Học giảng luận – tập 2:

Duy Thức Học giảng luận – tập 3:

Duy Thức Học giảng luận – tập 4:

Duy Thức Học giảng luận – tập 5:

Chúng tôi sẽ đưa lên thêm sau khi hoàn thành ấn bản điện tử.
Trân trọng
Nam Mô A Di Đà Phật